Khung năng lực số cho ngành in
KHUNG NĂNG LỰC SỐ CHO NGÀNH IN
Thế giới ngày nay đang vận hành để hướng tới Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (4IR - Fourth Industrial Revolution), các công nghệ tiên phong, ví dụ như trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, mô phỏng..., đang định hình lại tương lai việc làm và đòi hỏi nền tảng kỹ năng kỹ thuật số luôn thay đổi. Do đó, tăng cường kỹ năng số trong các lĩnh vực nghề nghiệp là rất quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh của một quốc gia. Ứng dụng và vận hành công nghệ trong môi trường Kỹ thuật số là xu hướng tất yếu, không chỉ là cấp bách với mỗi Quốc gia và với mỗi ngành.
Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các quyết sách mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế số, với Quyết định 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 đã phê duyệt “Chương trinh Chuyển đổi Số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” nhằm đạt được các mục đích Xây dựng: (1) Chính phủ số; (2) Kinh tế số; (3) Xã hội số; và hình thành các doanh nghiệp số có năng lực phát triển toàn cầu. Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022, Thủ tướng Chính phủ quyết định lấy ngày 10 tháng 10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia, Ngày 19/10/2022 Bộ trưởng Bộ TTTT đã ký quyết định 1925/QĐ-BTTTT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục chuyển đổi số quốc gia. Những chuyển động này cho thấy sự quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong chiến lược xây dựng và tham gia vào nền kinh tế số toàn cầu. Điều này thúc đẩy mọi ngành nghề, mọi đối tượng trong xã hội phải tham gia vào môi trường số.
Trong loạt bài viết này Prima xin gởi đến bạn đọc những vấn đề về khung năng số và xây dựng khung năng lực số ngành In, nhằm đáp ứng chiến lược phát triển của chính phủ Việt nam và thực tế của ngành Công nghệ in toàn cầu.
Kiến thức và kỹ năng kỹ thuật số là điều cần thiết để mọi người tham gia vào nền kinh tế và xã hội kỹ thuật số, bằng cách đó, họ được hưởng lợi từ các sản phẩm, dịch vụ và nội dung kỹ thuật số. Để không ai bị bỏ lại phía sau trong phát triển kinh tế số, điều cần thiết là phải trang bị cho tất cả công dân của một Quốc gia các kỹ năng số thiết yếu và hiểu biết về kỹ thuật số. Điều này cũng đồng nghĩa với việc để là một thành viên của xã hội, mỗi người đều có một nền tảng chung về kiến thức và kỹ năng chung về kỹ thuật số.

Hình 1: 4IR đã đến
Kiến thức và kỹ năng kỹ thuật số là gì?
Tầm quan trọng của kiến thức kỹ thuật số được chứng minh bằng nhiều nỗ lực của các Quốc gia và khu vực nhằm phát triển và triển khai khung kiến thức kỹ thuật số cũng như các kế hoạch chiến lược nhằm nâng cao kiến thức kỹ thuật số của công dân. Ví dụ, Hàn Quốc có ý định nâng cao trình độ kỹ thuật số của các quan chức nhà nước để tăng tính hiệu quả, tính minh bạch và cung cấp dịch vụ cho người dân thông qua hành chính công (Young, 2016). Hay như Oman đã áp dụng Chương trình giảng dạy kiến thức kỹ thuật số của Microsoft để thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số, củng cố ngành CNTT và xây dựng năng lực việc làm cho công dân trẻ (Cơ quan công nghệ thông tin Vương quốc Oman, 2008).
Tương tự như vậy, các định nghĩa về kiến thức kỹ thuật số cũng khác nhau. Một số người cho rằng kiến thức kỹ thuật số là một kiến thức mới bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau được thể hiện trong các thực tiễn xã hội mới, đa phương thức. Ví dụ, Ala-Mutka (2011) đã định nghĩa kiến thức kỹ thuật số cho DigComp là kiến thức mới nổi từ các kiến thức khác, bao gồm kiến thức thông tin, kiến thức truyền thông, kiến thức Internet và máy tính hoặc kiến thức về CNTT (tức là kiến thức và kỹ năng về phần cứng và phần mềm). Tương tự, trong Khung chương trình giáo dục cơ bản của Kenya, trình độ kỹ thuật số bao gồm kiến thức truyền thống và kiến thức máy tính.
Năm 2018, UNESCO đề xuất DLGF (Digital Literacy Global Framework - Khung khổ kiến thức kỹ thuật số toàn cầu) nhằm phục vụ cho việc giám sát, đánh giá và phát triển hơn nữa kiến thức kỹ thuật số, có tính đến các cấp độ phát triển khác nhau. Do đó, khung kết quả cần phải có khả năng vận hành được để phục vụ mục đích này. Khi xem xét các khuôn khổ liên quan được thu thập từ các cơ quan chính phủ và phi chính phủ, UNESCO thấy rằng các khái niệm sau thường xuyên xuất hiện: “truy cập”, “quản lý”, “hiểu”, “tích hợp”, “giao tiếp”, “đánh giá” và “sáng tạo”. Do đó, UNESCO đề xuất định nghĩa sau đây về kiến thức kỹ thuật số
Kiến thức kỹ thuật số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo ra thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua các công nghệ kỹ thuật số cho việc làm, việc làm bền vững và tinh thần kinh doanh. Nó bao gồm các năng lực khác nhau như hiểu biết về máy tính, hiểu biết về CNTT, hiểu biết về thông tin và hiểu biết về truyền thông.
Khảo sát của UNESCO cho thấy rằng có sự chấp nhận chung rằng năng lực hiểu biết về kỹ thuật số đòi hỏi người đó phải có kiến thức và kỹ năng cần thiết, cũng như thái độ là cần thiết để một người có được sự cam kết và động lực nhằm đạt được hiệu quả hoạt động thành thạo và được đưa vào DLGF. Trong việc thiết kế khung năng lực số cho ngành in, Prima xác định đây là một định nghĩa cơ sở của quá trình xây dựng và thiết kế chương trình.
Khung năng lực số công dân châu Âu
Khung năng lực kỹ thuật số dành cho công dân (Digital Competence Framework for Citizens - DigComp 2.0) của Ủy ban Châu Âu (EC - European Commission) là một trong những khung năng lực số ra đời sớm nhất từ những năm 2010. Nó giải thích năng lực số là gì? và cung cấp cơ sở cho việc lên chính sách về các kỹ năng số. Nâng cao nhận thức cho việc phát triển và xác định mức năng lực số. (The Ditital Competence Framework for Citizens, 2020)
Khung Năng lực Số cho Công dân, đưa ra ngôn ngữ chung để xác định và mô tả các năng lực số chính. Đây là công cụ để cải thiện năng lực số của các công dân, giúp những người làm chính sách xây dựng các chính sách hỗ trợ cho năng lực số, lập kế hoạch cho giáo dục và đào tạo để cải thiện năng lực số của các nhóm công dân nhất định.

Hinh 2: ví dụ về khung năng lực số
Khung năng lực số công dân của châu Âu được UNESCO sử dụng làm khung ban đầu để thiết kế Khung kiến thức kỹ thuật số toàn cầu (DLGF) và phát triển một phương pháp có thể làm nền tảng cho Mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goal – SDG).
Như vậy, khung năng lực số là các mô tả về những năng lực cần thiết để con người có thể sống và làm việc trong xã hội số hiện nay. Với mỗi lĩnh vực, được hình thành từ những năng lực riêng biệt, các năng lực này kết hợp để tạo ra năng lực trong từng lĩnh vực cụ thể. Như định nghĩa của EU “sử dụng và gắn kết với các công nghệ kỹ thuật số một cách tự tin, có phê phán và có trách nhiệm để học tập, làm việc và tham gia vào xã hội. Nó được định nghĩa là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ.”
Ví dụ về khung năng lực DigComp 2.0
Lĩnh vực năng lực | Năng lực |
1. Kiến thức thông tin và dữ liệu | 1.1 Truy cập, tìm kiếm và lọc dữ liệu, thông tin, nội dung số 1.2 Đánh giá dữ liệu, thông tin và nội dung số 1.3 Quản lý dữ liệu, thông tin và nội dung số |
2. Giao tiếp và hợp tác | 2.1 Tương tác thông qua công nghệ số 2.2 Chia sẻ qua công nghệ số 2.3 Tham gia quyền công dân thông qua công nghệ kỹ thuật số 2.4 Hợp tác thông qua công nghệ số 2.5 Sử dụng đúng thức mạng (email, cách đặt mật khẩn, gắn thẻ...) 2.6 Quản lý danh tính kỹ thuật số |
3. Sáng tạo nội dung số | 3.1 Phát triển nội dung số 3.2 Tích hợp và xây dựng lại nội dung số 3.3 Bản quyền và giấy phép 3.4 Lập trình |
4. An toàn | 4.1 Thiết bị bảo vệ 4.2 Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư 4.3 Bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc 4.4 Bảo vệ môi trường |
5. Giải quyết vấn đề | 5.1 Giải quyết vấn đề kỹ thuật 5.2 Xác định nhu cầu và phản hồi về công nghệ 5.3 Sử dụng sáng tạo công nghệ số 5.4 Xác định khoảng cách năng lực kỹ thuật số |
Đại dịch Covid-19 và những tác động trên phạm vi toàn cầu đã thúc đẩy nhu cầu về kỹ năng kỹ thuật số trong nhiều ngành nghề, bao gồm cả các ngành nghề trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT- information and communications technology) cũng như các lĩnh vực khác. Việc sử dụng hiệu quả các kỹ năng kỹ thuật số đã được chứng minh là động lực thúc đẩy khả năng phục hồi, giúp người lao động và toàn bộ tổ chức thích ứng với thực tế mới do đại dịch gây ra. Kỹ năng kỹ thuật số cũng đã giúp nhiều người lao động mà kỹ năng kỹ thuật số không đòi hỏi cao trước đại dịch, đã chuyển sang làm việc từ xa hầu như chỉ sau một đêm, chẳng hạn như trong công việc giảng dạy và văn thư (CEDEFOP, 2021).
Số hóa cũng đặt ra những thách thức cho tương lai của nghề nghiệp. Số hóa và tự động hóa tạo ra nhiều loại công việc mới nhưng đồng thời cũng loại bỏ các công việc mang tính thủ công và thường xuyên. Tất cả các ngành và khu vực địa lý sẽ bị ảnh hưởng, với số lượng công nhân ngày càng tăng cần đào tạo lại và nâng cao kỹ năng. LHQ ước tính rằng 9 trong số 10 công việc sẽ yêu cầu các kỹ năng kỹ thuật số trong tương lai (Liên Hợp Quốc, 2018).
Theo nhận định của EC, Năng lực kỹ thuật số đã trở nên quan trọng đối với việc làm. Không chỉ coi vai trò như một kỹ năng chuyển đổi để phát triển khả năng tuyển dụng mà còn bởi vì khoảng 85% tổng số việc làm ở EU cần ít nhất trình độ kỹ năng kỹ thuật số cơ bản. (Developing digital competence for employability: Engaging and supporting stakeholders with the use of DigComp, 2019)
Số liệu thống kê gần đây nhất thu thập các kỹ năng kỹ thuật số ở Châu Âu trong năm 2017 cho thấy rằng 43% dân số EU không có đủ kỹ năng kỹ thuật số (không có kỹ năng hoặc trình độ thấp), 42% trong số đó sẽ thất nghiệp. Hơn nữa, trong cùng năm đó, 10% lực lượng lao động EU không có kỹ năng kỹ thuật số, chủ yếu là do họ không sử dụng Internet và 35% không có ít nhất các kỹ năng kỹ thuật số cơ bản, vốn hiện được yêu cầu trong hầu hết các công việc.

Hình 3: Thống kê lao động ở Châu Âu bị ảnh hưởng do quá trình số hóa. Nguồn: Digital Agenda Scoreboard 2017.
Vì thế, các kỹ năng kỹ thuật số và kiến thức về kỹ thuật số cần được cải thiện ở tất cả các lĩnh vực, từ thành phố, vùng sâu vùng xa và nông thôn hoặc đến các môi trường di cư. Cải tiến này sẽ cho phép người dân có quyền tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ hiệu quả hơn, người tiêu dùng sẽ có nhiều lựa chọn hơn và các doanh nghiệp sẽ có thể khám phá nhiều cơ hội và thị trường hơn. Do đó, các kỹ năng kỹ thuật số đại diện cho khía cạnh quan trọng của phát triển kinh tế kỹ thuật số ở một quốc gia và tạo cơ hội cho quá trình chuyển đổi kỹ thuật số toàn diện hơn trong dài hạn.
Khảo sát về Kỹ năng Người lớn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD - The Organisation for Economic Co-operation and Development), được thực hiện ở OECD và các quốc gia được chọn khác, cho thấy 15% người trưởng thành thiếu các kỹ năng kỹ thuật số cơ bản. Theo báo cáo năm 2018 của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU - International Telecommunication Union) một nửa dân số thế giới vẫn không có quyền truy cập internet. Tỷ lệ này ở hầu hết các nền kinh tế phát triển đã cao hơn 90%, chẳng hạn như Canada (96,5%) và Nhật Bản (91%). Ngược lại, tỷ lệ này tương đối thấp hơn ở các nước đang phát triển như Trung Quốc (70,6%), Indonesia (53,7%) và Thổ Nhĩ Kỳ (77,7%). Hơn nữa, ngay cả ở một số quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao và internet đã đạt đến mức bão hòa, khoảng cách vẫn tồn tại giữa các nhóm khác nhau, chẳng hạn như giữa nam và nữ, những người ở các độ tuổi khác nhau, những người có mức thu nhập hoặc trình độ học vấn khác nhau. và giữa những người sống ở thành thị hay nông thôn (OECD, 2019). Điều này ảnh hưởng đến việc làm trước làn sóng chuyển đổi số, như khảo sát dưới đây của ILO.

Hình 4: ASEAN - Tương lai việc làm trước nguy cơ tự động hóa. Nguồn: Tổ chức lao động quốc tế - ILO.
Do đó, khoảng cách về kỹ năng kỹ thuật số ngày càng lớn và càng trở nên trầm trọng hơn do đại dịch Covid-19, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này là do quá trình số hóa ngày càng nhanh và các công nghệ mới đang phát triển theo chu kỳ ngày càng ngắn hơn. Đòi hỏi sự thay đổi nhanh chóng về công việc và các kỹ năng cần thiết để đáp ứng được những kỹ năng mà doanh nghiệp yêu cầu. Khoảng cách kỹ năng kỹ thuật số cũng bao gồm tình trạng thiếu kỹ năng. Trong khi đó, báo cáo Kỹ năng kỹ thuật số toàn cầu (Digital Skills Global 2021) chỉ ra rằng yếu tố chính khiến khoảng cách kỹ năng kỹ thuật số ngày càng lớn ảnh hưởng đến các lĩnh vực và nền kinh tế khác nhau với những tỷ lệ khác nhau là do người lao động chưa được đào tạo bài bản để lấp đầy các vị trí kỹ thuật số trong các ngành công nghệ đang phát triển.
Trước sự chuyển biến của công nghệ số, đặt ra một thách thức cho ngành in VN, làm thế nào để đào tạo, huấn luyện đội ngũ kỹ thuật viên đáp ứng yêu cầu sự chuyển đổi nhanh chóng của cuộc cách mạng 4.0. Tuy nhiên, có rất nhiều biến số tác động đến ngành, cả về luật pháp, quản lý và sự phát triển của công nghệ. Trong bài tới chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn đọc những vấn đề liên quan đến việc xây dựng khung năng lực số cho ngành in, làm cơ sở để thiết kế chương trình đào tạo phù hợp với môi trường làm việc số trong hiện tại và tương lai.

Hình 5: Kỹ thuật số làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp và công việc
Tham khảo
[1] Developing digital competence for employability: Engaging and supporting stakeholders with the use of DigComp, EC, 2019
[2] A Global Framework of Reference on Digital Literacy Skills for Indic ator 4.4.2, UNESCO, 2018
[3] Digital Skills: Frameworks and Programs, Work Bank, 2020.
[4] G20 Toolkit for Measuring Digital Skills and Digital Literacy, G20, 2022
[5] https://joint-research-centre.ec.europa.eu/digcomp/digcomp framework_en#:~:text=In%20DigComp%2C%20digital%20competence%20involves,and%20for%20participation%20in%20society.
PHẦN 2: KHUNG NĂNG LỰC SỐ CHO NGÀNH IN (II): Những vấn đề liên quan đến khung năng lực số
Trong bài trước, Prima đã trình bày với bạn đọc sự cần thiết và tầm quan trọng của khung năng lực số cho ngành In. Khung năng lực số giúp chúng ta thiết kế chương trình đào tạo nhằm giúp người lao động có đầy đủ và kiến thức kỹ thuật số, để có thể làm việc và hòa nhập với xã hội số hiện nay.
Ngành In là một trong những ngành đã được số hóa mạnh mẽ từ khi máy tính ra đời, công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn quy trình sản xuất và các công việc trong ngành in. Hiện nay, hầu hết công việc tạo nội dung, thiết kế và chế tạo bản in đều đã được số hóa. Máy in có tính tự động hóa cao và kết nối dữ liệu với các công đoạn trước và sau in, việc in ấn và thành phẩm hoạt động dựa trên giao tiếp và điều khiển kỹ thuật số, đánh giá chất lượng và kiểm soát quá trình, tất cả đều dựa trên nền tảng số.
Thách thức trong tương lai còn lớn hơn nữa, khi kỹ thuật số ngày càng nhanh chóng thay đổi cuộc sống và việc làm của lao động trong ngành. Thiết kế khung năng lực số phải đáp ứng hiện tại và xu hướng phát triển chung của ngành công nghiệp in, cũng như phù hợp với trình độ công nghệ, năng lực hiện tại của ngành in tại VN, hơn nữa những yêu cầu về luật pháp cũng cần được tuân thủ.
Trong bài viết này, Prima trình bày một số vấn đề chính tác động đến việc thiết kế và xây dựng khung năng lực số của ngành In.
Nhận thức chung
Khả năng kỹ thuật số rất quan trọng đối với các cá nhân và cộng đồng vì trong thời đại kỹ thuật số, công nghệ làm trung gian cho sự tương tác của chúng ta với thế giới và với nhau. Sự phát triển của Khung kỹ năng kiến thức kỹ thuật số phản ánh lý thuyết và thực tiễn hiện tại về tầm quan trọng của kiến thức kỹ thuật số, hiện đã gắn liền với kết cấu xã hội của cuộc sống hàng ngày.
‘Sự hòa nhập kỹ thuật số không chỉ là về máy tính, internet hay thậm chí là công nghệ. Đó là việc sử dụng công nghệ như một kênh để cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy giáo dục và thúc đẩy phúc lợi kinh tế đến tất cả các thành phần của xã hội. Hòa nhập kỹ thuật số thực sự là hòa nhập xã hội.’ (Chỉ số hòa nhập kỹ thuật số của Úc, 2018).
Đối với những người có trình độ đọc viết và tính toán thấp, người có thu nhập thấp, người học có nguồn gốc đa dạng, ‘có mong muốn trở thành một phần của xã hội. Họ có thể cảm thấy bị bỏ rơi khỏi xã hội do điều kiện sống khó khăn (ví dụ: công việc không ổn định hoặc thiếu nguồn lực cơ bản). Và vì vậy, với sự phổ biến rộng rãi của công nghệ trong cộng đồng của họ, điều quan trọng là họ phải cảm thấy mình thuộc về.’ (Dezuanni et al, 2018).
Một số khung kiến thức kỹ thuật số trong nước và quốc tế đã được nghiên cứu để cung cấp thông tin cho việc phát triển Khung năng lực số ngành In, Khung kỹ năng này phải thể hiện ba yếu tố:
- Kỹ năng cốt lõi của kiến thức và năng lực kỹ thuật số được bối cảnh hóa; Mỗi bối cảnh mà các cá nhân hoạt động trong nghề nghiệp đều có những yêu cầu, kỳ vọng và quy tắc kỹ năng cốt lõi riêng cần phải học.
- Hiệu suất của một cá nhân tại bất kỳ thời điểm nào cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi sự tương tác của một số biến số hiệu suất khác
- Khung năng lực số phản ánh hiện thực công nghệ In tại VN.
Sự phát triển của công nghệ số đã làm thay đổi mô hình tương tác của con người tương tác ở nhiều cấp độ khác nhau theo những cách sâu sắc mà chúng ta không thể bỏ qua được nữa. Mặt khác, với hoạt động nghề nghiệp, người lao động hầu hết là người trưởng thành. Vì thế cần có một khung năng lực số phù hợp với ngành và xu hướng phát triển của ngành, đồng thời cũng cần có chương trình đào tạo phù hợp với người trưởng thành và lộ trình để họ có thể học tập suốt đời theo tiến trình phát triển của xã hội số.
Khung năng lực số của ngành In, dành cho tất cả các vị trí làm việc trong ngành công nghiệp, từ người vận hành cơ bản nhất đến các quản trị viên, đảm bảo cho họ đáp ứng được vị trí công việc và cam kết khả năng tự học suốt đời. Mục tiêu bao quát của nó là xác định rõ hơn, đối với người học trưởng thành ở các cấp độ khác nhau, các yếu tố cần thiết để định hướng và tham gia đầy đủ vào bối cảnh kỹ thuật số không ngừng phát triển.
Để đạt được điều đó, cần trả lời được các câu hỏi định hướng góp phần xây dựng Khung năng lực:
- Người học trưởng thành cần những kỹ năng kỹ thuật số cơ bản, trung cấp và nâng cao nào để thành công trong cuộc sống, học tập và làm việc trong ngành?
- Các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục dành cho ngành đóng vai trò gì trong việc phát triển kiến thức kỹ thuật số?
- Làm thế nào để người học trưởng thành có thể được trao quyền sử dụng các kỹ năng kỹ thuật số trong các bối cảnh khác nhau?

Hình 1: Kỹ thuật số hiện diện trong mọi mặt của đời sống XH
Từ góc độ đó, cần xem xét bối cảnh chung của ngành và hướng phát triển của nó để thiết kế phù hợp
Bối cảnh của ngành In Việt Nam
Theo báo cáo của Hiệp hội in Việt Nam, mặc dù có một số nhà in nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu đã phải đóng cửa nhưng tổng số cơ sở in cả nước vẫn tăng. Theo số liệu của Cục xuất bản, In và Phát hành, năm 2021 số lượng nhà in công nghiệp cả nước đã tăng 4,1% so với năm trước, trong đó khu vực có tỷ lệ tăng cao nhất là Đồng bằng Bắc Bộ - 9,8%, Hà Nội tăng 8,6% và thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,6% đưa tổng số nhà in cả nước lên trên 2.300 đơn vị. Theo cơ cấu sản phẩm thì các doanh nghiệp in tổng hợp, vừa in xuất bản phẩm vừa in các sản phẩm khác chiếm 51% các doanh nghiệp chuyên in bao bì, nhãn hàng chiếm 49% nhưng sản lượng của khối nhà in này lại chiếm trên 2/3 sản lượng toàn ngành, trong đó có khá nhiều doanh nghiệp bao bì có doanh thu từ vài trăm đến hàng ngàn tỷ đồng/ năm. (nguồn: Hiệp hội in Việt Nam).
Tổng doanh thu toàn ngành năm 2021, theo con số thống kê của Cục xuất bản, In và Phát hành là 85.460 tỷ đồng (khoảng 3,8 tỷ USD). Thực tế con số này còn cao hơn đáng kể dựa trên phân tích khối lượng nguyên liệu chủ yếu sử dụng trong ngành in nước ta.
Việc đầu tư, đổi mới trang thiết bị và công nghệ trong những năm qua, mặc dù có nhiều bất lợi về điều kiện sản xuất kinh doanh nhưng việc đầu tư cho phát triển của ngành in Việt Nam vẫn duy trì đều đặn. Thậm chí năm 2021, số lượng máy in nhập khẩu về Việt Nam vẫn tăng cao cả về số lượng và giá trị. Theo số liệu của phòng Quản lý in Cục xuất bản, In và Phát hành thì số lượng máy in công nghiệp như offset, Flexo, ống đồng là 994 chiếc, cao hơn năm trước 18% với tổng trị giá là 3.178 tỷ đồng, tương đương gần 140 triệu USD, trong đó máy mới chiếm 65%, phần lớn là máy in từ 4 màu trở lên (80%), nhiều máy có giá trị từ 1 triệu đến gần 20 triệu USD/ máy (nguồn: Cục xuất bản, In và Phát hành).
Về tình hình nhân lực: Số lao động làm việc trong ngành in Việt Nam khoảng 70.000 người (con số thống kê được của Cục Xuất bản, In và Phát hành năm 2021 là 58.800 người). Lực lượng lao động kể trên vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng. Đây cũng là một trong những khó khăn lớn nhất của ngành in Việt Nam hiện nay.
Theo kết quả khảo sát mới nhất của Hội in TPHCM về bất cập của nguồn nhân lực ngành in hiện nay. Khảo sát có sự tham gia của 3 nhóm doanh nghiệp: (1) nhóm doanh nghiệp nhà nước; (2) nhóm doanh nghiệp nước ngoài FDI; (3) nhóm doanh nghiệp là các công ty cổ phần và TNHH với 83% là doanh khối sản xuất và 17% doanh nghiệp thuộc khối thương mại, dịch vụ. Kết quả khảo sát thì có đến 94.5% doanh nghiệp trả lời là chất lượng nguồn nhân lực còn thiếu nhiều kỹ năng để tiếp cận công nghệ mới trong sản xuất in.
Xu hướng hiện tại của ngành in
In xanh và bền vững
Xu hướng nổi bật nhất của ngành in - in ấn xanh, thân thiện với môi trường. Trong quá trình này, ngành In sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, sử dụng vật liệu tái chế để sản xuất. Một số doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu hữu cơ như mực đậu nành (mực làm từ đậu nành), mực gốc nước, dễ tái chế và thân thiện với môi trường hơn. Không chỉ vậy, họ sử dụng giấy không làm từ cây gỗ, giấy làm từ đay, lúa mì, rơm hoặc chất thải nông nghiệp. Tất cả chúng ta đều in ấn thân thiện với môi trường hơn.
In kỹ thuật số
Sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường hơn như mực, lớp hoàn thiện và giấy dễ phân hủy và không giải phóng các hóa chất độc hại ra môi trường. Và sử dụng thiết bị tiết kiệm năng lượng, hoạt động sử dụng ít điện năng hơn. Tất cả chúng đều có thể giảm tác động đến môi trường và máy in trở nên bền vững hơn.
In 3d
Giải pháp này có thể làm sản phẩm phức tạp nhưng sử dụng ít vật liệu hơn so với truyền thống. Sử dụng các vật liệu như kim loại, nhựa và xi măng, họ áp dụng giải pháp này để xây nhà nhanh hơn và tạo ra các nguyên mẫu cũng như công cụ dễ dàng và rẻ hơn. In 3D có nhiều lợi ích: các nguyên mẫu chế tạo chi phí thấp bằng in 3D cần ít vật liệu hơn so với các phương pháp truyền thống. Tiết kiệm thời gian: làm sản phẩm bằng máy nhanh hơn làm thủ công.
Cá nhân hóa
Cá nhân hóa sản phẩm là một xu hướng đã ra đời từ rất lâu nhưng nó vẫn giữ được sức hút cho đến tận bây giờ và có thể là cả tương lai. Web to print được tích hợp với một công cụ thiết kế trực tuyến là giải pháp tốt nhất có thể mang đến cho người dùng trải nghiệm cá nhân hóa sản phẩm.
Sử dụng điện toán đám mây
Điện toán đám mây cho phép khách hàng in bằng cách kết nối thiết bị di động của họ với máy in trên đám mây và in ở mọi nơi mà không cần máy tính. Với sự tiện lợi của mình, cách thức này đem đến cho người dùng trải nghiệm hoàn toàn mới trong in ấn. Mặc dù không phải là một xu hướng mới nhưng trong cuộc khủng hoảng đại dịch, in ấn trên nền tảng đám mây một lần nữa trở thành xu hướng.
Xu hướng tương lai của ngành in
Xu hướng công nghiệp
Ngành công nghiệp in đang trải qua một sự thay đổi hướng tới in kỹ thuật số, mang lại những lợi thế như thời gian quay vòng nhanh hơn, chi phí thấp hơn và tính linh hoạt cao hơn trong tùy chỉnh.
Ngành công nghiệp cũng đang nhận thấy nhu cầu ngày càng tăng đối với các phương pháp in bền vững, chẳng hạn như sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và giảm chất thải.
Sự phát triển của thương mại điện tử và mua sắm trực tuyến kéo theo nhu cầu về bao bì, nhãn mác cũng tăng theo, tạo cơ hội mới cho các doanh nghiệp trong ngành in ấn.
Tự động hóa
Tự động hóa ngành liên quan đến việc sử dụng công nghệ tiên tiến, chẳng hạn như người máy, trí tuệ nhân tạo và học máy, để tự động hóa các quy trình khác nhau trong ngành in. Tự động hóa có thể giúp các công ty in giảm chi phí lao động, tăng hiệu quả sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ví dụ: một số công ty in đang sử dụng hệ thống rô-bốt để thực hiện các tác vụ như xử lý giấy, trộn mực và phối màu, những công việc này có thể tốn nhiều thời gian và công sức. Tự động hóa cũng có thể giúp giảm lỗi và cải thiện độ chính xác trong các tác vụ như hiệu chỉnh và in thử màu.
Thực tế tăng cường (AR-Augmented Reality)
Thực tế tăng cường (AR) là công nghệ phủ nội dung kỹ thuật số lên thế giới thực, tạo ra trải nghiệm tương tác và nhập vai cho người dùng. Trong ngành in ấn, AR có thể được sử dụng để nâng cao chất lượng tài liệu in bằng cách thêm nội dung kỹ thuật số như video, hoạt ảnh và các tính năng tương tác. Ví dụ: một tập tài liệu in có thể được cải tiến bằng công nghệ AR để cung cấp cho khách hàng thông tin bổ sung về sản phẩm, video minh họa hoạt động của sản phẩm và liên kết để mua sản phẩm trực tuyến. AR cũng được ứng dụng trong đào tạo mô phỏng, dịch vụ sữa chữa, hỗ trợ từ xa.
In trực tiếp lên vật thể
In trực tiếp thành hình là một quy trình cho phép in trực tiếp lên các vật thể ba chiều, chẳng hạn như chai, lon và hộp đựng. Công nghệ này cho phép in chất lượng cao và chính xác trên các bề mặt không đều hoặc cong, lý tưởng cho việc đóng gói, dán nhãn sản phẩm và các ứng dụng khác. In trực tiếp thành hình cũng có thể giúp giảm tác động đến môi trường của việc in bằng cách loại bỏ nhu cầu sử dụng nhãn và giảm chất thải.
In lai ghép
In hỗn hợp kết hợp hai hoặc nhiều công nghệ in để tạo ra các giải pháp in mới và sáng tạo. Ví dụ: in kết hợp có thể kết hợp in kỹ thuật số và in offset để tạo tài liệu tiếp thị được cá nhân hóa với hình ảnh và văn bản chất lượng cao. In kết hợp cũng có thể cho phép sản xuất các dự án in độc đáo và phức tạp khó hoặc không thể đạt được bằng cách sử dụng một công nghệ in duy nhất.
In thông minh
In thông minh liên quan đến việc sử dụng công nghệ in để tạo ra các sản phẩm có cảm biến nhúng, mạch và các thành phần điện tử khác có thể thu thập và truyền dữ liệu. Công nghệ này cho phép sản xuất bao bì thông minh, nhãn và các sản phẩm khác có thể cung cấp thông tin theo thời gian thực về chất lượng sản phẩm, vị trí và các số liệu quan trọng khác. In thông minh cũng có thể giúp cải thiện hiệu quả của chuỗi cung ứng, giảm lãng phí và tăng cường sự tham gia của khách hàng.

Hình 2: In Kỹ thuật số là tương lai không thể thiếu của ngành in
Những thách thức đối với ngành Công nghiệp In
- Sự gia tăng của các phương tiện kỹ thuật số đã dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu đối với các tài liệu in ấn truyền thống như báo và tạp chí.
- Sự cạnh tranh từ các hình thức quảng cáo khác, chẳng hạn như quảng cáo trực tuyến và mạng xã hội, cũng gây áp lực lên ngành in ấn.
- Ngành công nghiệp In cũng đang phải đối mặt với chi phí nguyên liệu thô và lao động tăng cao, có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận.
- Chất lượng nguồn nhân lực trong môi trường số đầy tính thách thức và cạnh tranh.
Triển vọng tương lai cho ngành in
- Ngành công nghiệp in sẽ tiếp tục phát triển, trong đó in kỹ thuật số dự kiến sẽ ngày càng chiếm ưu thế.
- Những tiến bộ trong công nghệ, chẳng hạn như in 3D, có thể tạo ra những cơ hội mới cho các công ty trong ngành in.
- Các công ty trong ngành in sẽ cần phải tiếp tục thích ứng với các điều kiện thị trường đang thay đổi và đầu tư vào công nghệ mới để duy trì tính cạnh tranh.
- In 3D là một trong những xu hướng phát triển nhanh nhất của ngành in. Và họ tin rằng nó sẽ thuận tiện và tiên tiến hơn cho mọi người trong tương lai.

Hình 3: In 3D tăng trưởng mạnh
Từ thực trạng về nguồn nhân lực của ngành In và tóm tắt xu hướng chung của ngành in, những thách thức trong hiện tại và tương lai, chúng ta thấy rằng, tất cả đều hướng về việc ứng dụng công nghệ số trong sản xuất in. Những thách thức này đặt ra vấn đề làm thế nào để nguồn nhân lực có đủ kiến thức và kỹ năng kỹ thuật số để đáp ứng cho sự phát triển của ngành và cho chính bản thân người lao động trong môi trường kỹ thuật số hiện nay và tương lai.
Trong một bài viết tới, Prima sẽ trình bày về khung năng lực số ngành in và đưa ra khung năng lực số ngành in dự kiến.

Hình 4: Điện toán đám mây đã trở thành một phần của ngành In
Tham khảo
[1] Australian Government, Certificate I & II in Information, Digital Media and Technology,
https://training.gov.au/Training/Details/ICT10115.
[2] Digital literacy framework for adult learners, Maryland department of labor's adult education, 2020
[3] Coward, C., Fellows, M. 2018, Digital skills toolkit, International Telecommunication Union
[4] European Commission (accessed on June 23, 2019),
[5] https://cmsmart.net/community/printing-industry-trends
Bạn đọc thân mến trong bài đầu tiên trong loạt bài về Khung năng lực số cho ngành In, chúng tôi đã trình bày tầm quan trọng và cần thiết của kiến thức và kỹ năng lực số của người lao động trong môi trường làm việc của nền công nghiệp 4.0 đang đến gần. Để xây dựng một khung năng lực số đòi hỏi sự nghiên cứu và phân tích cẩn trọng trong từng vấn đề, thực trạng của nguồn nhân lực ngành in Việt nam và các vấn đề chính chúng tôi đã tóm tắt trong bài thứ hai.
Trong bài viết này, chúng tôi trình bày về các thành tố của khung năng lực số và đưa ra “khung năng lực số ngành in”. Để hoàn thiện, còn rất nhiều việc phải làm và cần có thời gian. Sẽ nhanh chóng hơn nếu chúng tôi nhận được sự quan tâm và đóng góp của quý doanh nghiệp– những đồng nghiệp – như những cánh tay cùng kết nối để cùng nâng tầm ngành in Việt nam.
Tại sao chúng ta cần khung năng lực số?
Sự tác động mạnh mẽ của các công nghệ số, đã làm thay đổi hoàn toàn tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta: cách chúng ta giao tiếp, cách chúng ta làm việc, cách chúng ta hưởng thụ, cách chúng ta tổ chức cuộc sống, cách chúng ta tìm nguồn tri thức và thông tin. Nó đã làm thay đổi cách chúng ta tư duy và cách chúng ta hành động. Thế hệ trẻ đang lớn lên trong một thế giới mà các công nghệ số chi phối hầu hết các hoạt động xã hội. Không có rào cản về địa lý, ngôn ngữ, công việc, giải trí... . Tuy nhiên, điều này không mặc định rằng, đương nhiên họ được trang bị các kỹ năng đúng để sử dụng có hiệu quả và có ý thức các công nghệ số.
Bất chấp đòn bẩy mà nền kinh tế kỹ thuật số mang lại thông qua số hóa, việc thiếu kỹ năng và hiểu biết về kỹ thuật số có thể gây cản trở cho nền kinh tế kỹ thuật số. Cơ sở hạ tầng công nghệ tiên tiến cần được hỗ trợ bởi những thành viên đủ kỹ năng và hiểu biết về kỹ thuật số để tối ưu hóa nó. Nếu không, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số không thể phát huy hết tiềm năng của mình, để vượt trội trong tăng trưởng kinh tế. Do đó, đầu tư vào con người các kỹ năng kỹ thuật số tiên tiến hơn, trở thành chìa khóa để phát triển nền kinh tế kỹ thuật số công bằng và bền vững.
Năng lực số, vì thế, được xem là yếu tố sống còn để đạt đến thành công trong học tập, nghiên cứu và phát triển sự nghiệp trong tương lai (Killen, 2018): đa phần mọi vị trí việc làm sẽ được số hóa, khả năng sử dụng công nghệ số là đòi hỏi của hầu hết mọi ngành nghề, các ngành công nghiệp số trở thành nhân tố then chốt của nền kinh tế, các cơ sở giáo dục trở thành những mô hình doanh nghiệp số, Giáo viên và Học viên phải là những người tận dụng được các lợi ích của công nghệ, đồng thời hỗ trợ cộng đồng và thúc đẩy khả năng đổi mới, sáng tạo của các thế hệ kế tiếp.
Khảo sát vào tháng 03/2019 của CEDEFOP (Cedefop là một trong những cơ quan của EU. Cedefop hỗ trợ phát triển các chính sách giáo dục và đào tạo nghề của Châu Âu) tại EU cho thấy: Ngoài các kỹ năng kỹ thuật số, tập hợp các kỹ năng mà thị trường lao động yêu cầu đang phát triển. Cũng đã tiết lộ rằng 10 kỹ năng hàng đầu được yêu cầu ở các vị trí tuyển dụng: thích ứng với sự thay đổi, làm việc nhóm tốt, sử dụng phần mềm văn phòng, hỗ trợ khách hàng, sử dụng máy tính, giải quyết vấn đề, giao tiếp tốt, sáng tạo, có khả năng sắp xếp thứ tự ưu tiên, quản lý dự án. Tất cả các kỹ năng này đều trong môi trường số.

Hình 1: Chúng ta cần năng lực số nào cho nghề nghiệp của mình?
Làm việc trên các khung năng lực để hiểu biết về năng lực kỹ thuật số cần được đặt trong bối cảnh chính sách quốc gia, các xu hướng của thị trường lao động, cũng như hệ thống giáo dục và đào tạo đang thay đổi. Tự động hóa và các công nghệ mới khác có tiềm năng tạo ra những thay đổi mang tính đột phá, nhưng đồng thời cũng tạo ra rủi ro và cơ hội, chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng. Các xu hướng này rất rõ ràng và đặt ra nhiều câu hỏi mở, nhưng chỉ có một câu trả lời nhất quán là: Người lao động cần những kỹ năng nào? và có nhận được sự hỗ trợ liên tục để đảm bảo lực lượng lao động có các kỹ năng phù hợp, trong môi trường làm việc Kỹ thuật số hiện nay.
Khung năng lực số của ngành In được xây dựng để trả lời cho câu hỏi này, đảm bảo để ngành in có lực lượng lao động với các kiến thức và kỹ năng số phù hợp với tiến trình phát triển hiện nay của ngành công nghệ.
Các thành tố của khung năng lực số.
Để thiết kế khung năng lực số dự kiến của ngành In, Prima đã thành lập nhóm nghiên cứu chuyên trách để tiến hành phân tích nghề, khảo sát mức độ ứng dụng công nghệ số, đánh giá xu hướng phát triển công nghệ và đánh giá mức độ ứng dụng tại Việt Nam, để làm cơ sở cho việc xây dựng khung năng lực số. Song song đó, đội ngũ của Prima cũng nghiên cứu và tham khảo các khung năng lực số được thừa nhận và được sử dụng phổ biến hiện nay. Bao gồm:
- Khung năng lực số của Ủy ban châu Âu ban hành năm 2018 (DigComp 2.2)
- Khung năng lực số của UNESCO ban hành năm 2018
- Khung năng lực số của Ủy ban Liên hợp Hệ thống Thông tin (JISC) ban hành năm 2017
- Khung năng lực số của Hội đồng Thư viện Đại học Úc (CAUL) bản cập nhật năm 2020
- Khung năng lực số của Chính phủ Úc ban hành năm 2020
- Khung năng lực số của Microsoft bản cập nhật năm 2021
- Chương trình dấu chân số của Hiệp hội Internet toàn cầu bản cập nhật năm 2021
- Chương trình tư duy thời đại số của Meta bản cập nhật năm 2021
Về tổng thể, khung năng lực được thiết kế thành 7 nhóm năng lực, mỗi một nhóm năng lực có thể được thiết kế thành một module học tập độc lập. Các nhóm năng lực này là cơ sở xây dựng thành chương trình đào tạo nghề, vừa đảm bảo người học có kiến thức về nghề in và có năng lực số phù hợp với vị trí công việc của mình. Cũng có thể xem, khung năng lực số là một phần của chuẩn đầu ra chương trình đào tạo. Khung năng lực số sẽ được cập nhật thường xuyên để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển của ngành.
Các cấp độ của kỹ năng số
Trên cơ sở nghiên cứu và ứng dụng các quy chuẩn về khung năng lực số của thế giới, của các nước phát triển. Từ thực tế của ngành công nghiệp In Việt Nam và sự phát triển công nghệ của ngành In thế giới. Prima đề xuất ba cấp độ của kỹ năng số trong khung năng lực số ngành:
- Các kỹ năng cơ bản: bao gồm các kỹ năng liên quan đến phần cứng cơ bản, phần mềm và hoạt động trực tuyến, và các kiến thức của nghề - những kỹ năng đó có thể không liên kết trực tiếp với công nghệ kỹ thuật số, nhưng chúng cần thiết để có được kỹ năng kỹ thuật số cơ bản.
- Đối với trình độ trung cấp và cao cấp bao gồm: khả năng định cấu hình các công cụ kỹ thuật số nói chung được ứng dụng trong sản xuất và tiêu thụ nội dung kỹ thuật số hoặc nâng cao các công cụ kỹ thuật số thông qua các kỹ năng lập trình cơ bản (ví dụ: thiết lập thông số tự động cho hoạt động của hệ thống)
- Trong khi đó, trình độ cao cấp liên quan đến lập trình và công nghệ Công nghiệp 4.0, bao gồm các kỹ năng liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, viết mã, an ninh mạng, Internet vạn vật (IoT). Điều đáng chú ý là các kỹ năng nâng cao thường có được thông qua giáo dục chính quy.

Hình 2: Các cấp độ kỹ năng số
Các trụ cột
Khung năng lực kỹ năng số bao gồm ba thành phần là trụ cột (năng lực), các yếu tố và chỉ số. Có bốn trụ cột chính trong khung năng lực, đó là: 1) Cơ sở hạ tầng và hệ sinh thái; 2) Trình độ học vấn; 3) Vi trí công việc; và 4) các công việc. Những trụ cột này cùng nhau cho phép đo lường các kỹ năng kỹ thuật số theo cách toàn diện, khách quan và chuẩn hóa hơn.

Hình 3: Các trụ cột của khung năng lực số
Trụ cột 1 - cơ sở hạ tầng và hệ sinh thái — không phải là vấn đề ở các nước phát triển. Tuy nhiên, ở một quốc gia đang phát triển như Việt nam, việc vượt qua các trở ngại từ phía cung, chẳng hạn như thiếu khả năng truy cập băng thông rộng, là rất quan trọng để gặt hái đầy đủ lợi ích của số hóa cho sự phát triển nghề nghiệp. Trụ cột 1 là nền tảng chính cho chất lượng của môi trường và hệ sinh thái kỹ năng số. Trong khi đó, trọng tâm của hệ sinh thái học tập và đổi mới là tăng cường khả năng thích ứng của mọi người để đáp ứng các yêu cầu về kỹ năng và công việc của thế kỷ 21. Các hệ thống và quy trình đổi mới cũng rất quan trọng trong việc tạo ra việc làm. Theo OECD (2018) khẳng định rằng đổi mới sáng tạo là chất xúc tác cho tăng trưởng năng suất và thu nhập trong dài hạn. Do đó, Trụ cột 1 sẽ xem xét hai yếu tố chính (1) khả năng tiếp cận và áp dụng CNTT-TT trong đào tạo và môi trường làm việc, (2) học tập và đổi mới.
Các yếu tố và chỉ số của Trụ cột 1
| Trụ cột 1. Cơ sở hạ tầng & hệ sinh thái | |
Các yếu tố | 1.1 Tiếp cận và áp dụng công nghệ | 1.2 Hệ sinh thái học tập & đổi mới |
Các chỉ số | 1.1.1 Thương mại CNTT-TT 1.1.2 Truy cập và sử dụng CNTT-TT 1.1.3 Ứng dụng công nghệ trong kinh doanh/sản xuất | 1.2.1 Giao tiếp công việc qua internet 1.2.2 Số người sử dụng internet trong học tập và làm việc 1.2.3 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực |
Trụ cột 2 - kiến thức kỹ thuật số - là một công cụ để đạt được sự phát triển kinh tế kỹ thuật số toàn diện. Theo định nghĩa của UNESCO (2019) “kiến thức kỹ thuật số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua các công nghệ kỹ thuật số cho việc làm, việc làm bền vững và tinh thần kinh doanh”. Trụ cột này sẽ được phân tích theo giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, giữa các vùng địa lý, để đánh giá xem có khoảng cách là bao nhiêu?.
Các yếu tố và chỉ số của Trụ cột 2
| Trụ cột 2. Kỹ năng | ||
Các yếu tố | 2.1 Tính bổ sung | 2.2 Tính lành nghề | 2.3 Bảo mật |
Các chỉ số | 2.1.1 Giao tiếp và cộng tác 2.1.2 Tư duy phản biện | 2.2.1 Làm quen với CNTT 2.2.2 Kiến thức dữ liệu | 2.3.1 Bảo mật thiết bị 2.3.2 Bảo mật cá nhân |
Trụ cột 3 - Trao quyền - được định nghĩa là các hoạt động giúp nắm bắt khả năng kỹ thuật số của mọi người để cải thiện mức thu nhập (trao quyền kinh tế) hoặc các hoạt động kỹ thuật số tạo thu nhập. Trụ cột này nhấn mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs) và nền kinh tế chia sẻ trong quá trình số hóa. Trụ cột này không chỉ tập trung vào người làm việc trong lĩnh vực ngành In mà còn liên quan đến nhà cung cấp và người tiêu dùng.
Các yếu tố và chỉ số của Trụ cột 3
| Trụ cột 3: Trao quyền | |
Các yếu tố | 3.1 Người dùng/Người tiêu dùng | 3.2 Nhà cung cấp/Người bán |
Các chỉ số | 3.1.1 Người dùng tài chính số 3.1.2 Người tiêu dùng thương mại điện tử 3.1.3 Người dùng thị trường 3.1.4 Người dùng E-learning | 3.2.1 Nhà cung cấp tài chính kỹ thuật số 3.2.2 Người bán hàng thương mại điện tử 3.2.3 Nhà cung cấp thị trường 3.2.4 Mạng xã hội 3.2.5 Nhà cung cấp dịch vụ học trực tuyến. |
Trụ cột 4 - bao gồm các nhu cầu về kỹ năng kỹ thuật số và khả năng sử dụng công nghệ kỹ thuật số của người lao động cho các mục đích liên quan đến công việc. Theo như định nghĩa cấp độ kỹ năng kỹ thuật số được đề xuất (hình 1). Các chỉ số sẽ nắm bắt các kỹ năng kỹ thuật số cần thiết để thực hiện trong các hoạt động, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp liên quan đến công nghệ (mới). Trụ cột này tập trung vào phân tích cung và cầu kỹ năng số trên thị trường lao động. Các kỹ năng kỹ thuật số cho công việc được phân thành cấp độ cơ bản, trung cấp và nâng cao, được áp dụng theo định nghĩa của ITU (2018).
Các yếu tố và chỉ số của Trụ cột 4
| Trụ cột: Công việc | |
Các yếu tố | 4.1 Nhu cầu về kỹ năng số | 4.2 Cung cấp kỹ năng kỹ thuật số |
Các chỉ số | 4.1.1 Các kỹ năng kỹ thuật số được yêu cầu nhiều nhất 4.1.2 Đào tạo kỹ năng số cho doanh nghiệp 4.1.3 Những nghề đòi hỏi kỹ thuật số 4.1.4 Mức độ tự động hóa và mức độ làm việc từ xa | 4.2.1 Tỷ lệ người lao động sử dụng internet tại nơi làm việc 4.2.2 Các kỹ năng kỹ thuật số được cung cấp nhiều nhất 4.2.3 Trình độ kỹ năng số liên quan đến công việc 4.2.4 Đào tạo kỹ năng số |
Kết quả phân tích nghề
Sau quá trình khảo sát và phân tích của các chuyên gia Prima cho thấy, trong môi trường làm việc số hiện nay và trong tương lai gần, ngành In có 13 khối kiến thức số và kỹ năng cần thiết để làm việc, bao gồm: 1. Vận hành và quản lý; 2. Khả năng sáng tạo; 3. Kỹ thuật trước in; 4. Kỹ thuật In; 5. Kỹ thuật sau In; 6. Quản lý chi phí và giá; 7. Quan hệ khách hàng - người tiêu dùng; 8. Công nghệ thông tin; 9. Quản lý chất lượng; 10. Trang thiết bị- máy móc ngành In; 11. Quản lý màu; 12. Cấu trúc sản phẩm; 13. Công nghệ vật liệu. Trong mỗi khối kiến thức này, sẽ có trung bình từ 3-7 cấp độ từ thấp đến cao, để đảm bảo đáp ứng các mức độ công việc.
Khung năng lực ngành in dự kiến
Trên cơ sở phân tích nghề, mức độ đáp ứng của các trụ cột trong điều kiện công nghệ của Việt nam. Prima xác định các trụ cột như bảng bên dưới làm cơ sở để thiết kế khung năng lực số cho ngành.
Trụ cột (năng lực) | Cơ sở hạ tầng và hệ thống kinh tế | Trình độ học vấn | Vị trí công việc | Công việc |
Các yếu tố | 1.1 Lĩnh vực CNTT, tiếp cận và áp dụng 1.2 Học tập và đổi mới | 2.1.Khả năng đọc/viết 2.2. ứng dụng công nghệ TT 2.3. Phổ thông | 3.1 Quản lý/Người vận hành 3.2 Quản lý/nhân viên | 4.1. Nhu cầu về kỹ năng số 4.2. Cung cấp kỹ năng số |
Các chỉ số (dự trù) | 6 | 6 | 9 | 1 1 |
Mỗi ngành nghề có mức độ số hóa khác nhau và mỗi vị trí công việc cụ thể lại có những yêu cầu về năng lực số khác nhau. Trong ngành In cũng vậy, có nhiều công việc chuyên môn đòi hỏi năng lực số khác nhau. Khung năng lực dự kiến được mô tả dưới đây là những đề xuất khung năng lực số cho ngành In. Bao gồm có 7 nhóm năng lực (trụ cột): Vận hành và quản lý thiết bị, Thiết kế cấu trúc sản phẩm và quản lý chi phí, Sáng tạo và ứng dụng công nghệ, Giao tiếp, quản lý khách hàng trong môi trường số, Ứng dụng CNTT và bảo mật dữ liệu, Tư duy phản biện. Trong 7 nhóm năng lực này, có các thành phần (chỉ số) khác nhau, dự kiến có tổng cộng 33 thành phần, để đáp ứng cho các mức năng lực khác nhau, toàn bộ khung năng lực số có 142 tiêu chí, đáp ứng cho 13 khối công việc của ngành.

Hình 4: Các nhóm năng lực của khung năng lực số ngành in dự kiến.
Ai được hưởng lơi từ khung năng lực số
Khung năng lực số rất thiết thực tất cả các bên liên quan trong ngành In, cụ thể với các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.
Về phía cơ quan quản lý nhà nước. Thông qua khung năng lực số và bộ công cụ, các cơ quan quản lý có thể thống kê được trình độ nguồn nhân lực của ngành, mức độ chuyển đổi số của doanh nghiệp. Từ đó tư vấn hoặc đề xuất các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số cho doanh nghiệp. Với người lao động, cơ quan quản lý có thể đưa ra các chính sách hỗ trợ hay khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình đào tạo, tái đào tạo để đáp ứng cho ngành Công nghiệp In, phù hợp với chính sách chuyển đổi số của quốc gia.
Về phía doanh nghiệp, giúp họ tự đánh giá mức độ chuyển đổi số của họ. Qua đó xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp của mình, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số cũng như giúp doanh nghiệp có chính sách đào tạo cho người lao động, xây dựng lực lượng, nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Về phía người lao động, qua khung năng lực số và công cụ đánh giá, họ có thể xác định tiến trình học tập cho mình, tự bản thân, người lao động chủ động tham gia vào quá trình đào tạo, nâng cao năng lực và kỹ năng số, thích ứng với môi trường sản xuất công nghệ số. Giúp cho bản thân họ nâng cao kiến thức và kỹ năng, cải thiện việc làm và thu nhập cho bản thân và gia đình.
Môi trường số, mở rộng khả năng quản lý, đánh giá tình hình, giúp cho mọi đối tượng đều tham gia vào quá trình phát triển.
Lời kết
Chúng ta đã không có cơ hội trong các cuộc cách mạng công nghiệp 1.0, 2.0, 3.0, nhưng cuộc cách mạng 4.0, với kỹ thuật số, cơ hội chia đều cho mỗi cá nhân, tổ chức và Quốc gia. Việt Nam không thể một lần nữa bỏ lỡ cơ hội của cuộc Cách mạng công nghệ này. Chính phủ Việt Nam cũng thể hiện rõ quyết tâm, định hướng và nỗ lực hành động mạnh mẽ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế số. Mục tiêu của Chính phủ là Việt Nam sẽ thuộc Top 4 ASEAN về xếp hạng số hóa quốc gia; tất cả mọi người trong xã hội được cung cấp sự truy cập bình đẳng về thông tin và dịch vụ số. Người dân Việt Nam có các kỹ năng số cần thiết để truy cập và sử dụng thông tin, dịch vụ số một cách hiệu quả.
Theo Katz và Margo (2013), công nghệ đã tạo ra phân cực việc làm, tạo ra nỗi lo về giảm việc làm của một số ngành nghề, sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng giữa lao động có thu nhập cao và lao động có thu nhập thấp. Đồng thời cũng làm mất đi việc làm ở mức thu nhập trung bình. Điều này cho thấy những thay đổi công nghệ sẽ có tác động khác nhau đối với người lao động. Mức độ người lao động hòa nhập hay bị gạt ra khỏi xã hội số do quá trình tự động hóa, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như kỹ năng của lao động và đặc thù ngành nghề mà ở đó người lao động là nhân tố bổ trợ hay thay thế cho robot và máy móc.
Nhân lực có kiến thức và kỹ năng số được xác định là một trong những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định tới thành công của chuyển đổi số quốc gia. Trong cơ cấu nguồn nhân lực, tỉ lệ nhân lực kỹ thuật/tổng lao động của nền kinh tế Việt Nam chỉ khoảng 1%. Đây là tỉ lệ tương đối thấp so với một số quốc gia như Hoa Kỳ (4%), Hàn Quốc (2,5%), Ấn Độ (1,78%). Về chất lượng, báo cáo của TopDev, một trong những công ty hàng đầu về tuyển dụng công nghệ thông tin, công bố năm 2021 cho thấy chỉ có khoảng 30% người lao động đáp ứng yêu cầu thực tế của công việc (DTI, 2022).
Về kỹ năng, Việt Nam chưa có chuẩn kỹ năng số quốc gia mà hiện mới chỉ có chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành từ năm 2014, dựa trên những nghiên cứu, khảo sát của giai đoạn trước đó, thiếu một số nội dung như phân tích dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo. Việc đào tạo nguồn nhân lực được trang bị năng lực số đang được đề cập nhưng chưa có giải pháp toàn diện.
Để ngành In Việt Nam phát triển, thiết thực với chiến lược của quốc gia, khung năng lực số cho ngành in là điều cần thiết và cấp bách. Prima đang thực thi và tiếp tục hoàn thiện khung năng lực dự kiến cho ngành In làm cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá năng lực, thiết kế các khóa học theo nhu cầu của thực tiễn. Nhằm mục đích đào tạo đội ngũ nhân lực ngành in mạnh mẽ, tự tin có đầy đủ kiến thức và kỹ năng số, giúp ngành in Việt nam phát triển và người lao động được hưởng lợi từ những thành quả đó.
Trong quá trình xây dựng Khung năng lực số của ngành In. Prima luôn muốn được kết nối, hợp tác với các bên liên quan, các chuyên gia, những người tận tâm với ngành để đạt được kết quả tốt nhất. Các thông tin có trên trang web prima.vn của chúng tôi, Prima trân trọng sự hợp tác của tất cả các bạn.

Hình 5: Công nghệ số giúp nâng cao sự kết nối và hợp tác
Tham khảo
[1] L. Pangrazio (2019), Young People’ s literacies in the digital age continuities, conflicts and contradictions.
[2] S. Thomson and L. De Bortoli (2012), Preparing Australian students for the digital world: results from the PISA 2009 digital reading literacy assessment, ACER Press.
[3] UNESCO (2018), A global framework of reference on digital literacy, UNESCO Institute for Statistics.
[4] Cedefop (2018) Insights into skills shortages and skill mismatch, at: http://www.cedefop.europa.eu/en/publications-and-resources/publications/3075
[5] UNESCO, 2018, Quick Guide to Education Indicators for SDG 4. [Online] trên trang web: http://uis.unesco.org/sites/default/files/documents/quick-guide-educationindicators- sdg4-2018-en.pdf [Accessed 20 May 2021].
[6] UNESCO. (2018). A Global Framework of Reference on Digital
Literacy. In UNESCO Institute for Statistics.
[7]UNESCO. (2021). Retrieved from UNESCO: https://uil.unesco.org
[8] Van Deursen, A.J.A.M., Helsper, E.J. & Eynon, R. (2014). Measuring Digital Skills. From Digital Skills to Tangible Outcomes project report. trên trang web : www.oii.ox.ac.uk/research/projects/?id=112
[9] World Bank. 2020. Digital Skills: Frameworks and Programs. World Bank, Washington, DC. World Bank. trên trang web: https://openknowledge.worldbank.org/handle/10986/35080
[10] Microsoft. (2021). 11 ideas for how to organize digital files Retrieved from https://www.microsoft.com/en-us/microsoft-365/businessinsights- ideas/resources/11-ideas-for-how-to-organize-digital-files
[11] OECD, 2020. A Roadmap toward a Common Framework for Measuring the Digital Economy. Report for the G20 Digital Economy Task Force, Saudi Arabia, 2020.